Blog - Trang 4 trên 9 - Cường Can Vương - Thực phẩm bảo vệ sức khỏe

Ung thư gan – Yếu tố nguy cơ và đối tượng cần kiểm soát

Yếu tố gây nguy cơ ung thư Gan?

Ung thư gan gồm 2 thể là nguyên phát và thứ phát. Thể thứ phát do các tế bào ung thư ở bộ phận khác di căn vào gan gây ra các khối u. Trong khi thể nguyên phát là bệnh lý ác tính của gan xảy ra khi tế bào bình thường của gan trở nên đột biến về hình thái và chức năng. Ung thư gan nguyên phát gồm 3 loại chính: ung thư biểu mô tế bào gan (phát triển từ tế bào gan), ung thư biểu mô đường mật (phát triển từ đường mật trong gan) và u nguyên bào gan (Hepatoblastoma). Trong đó ung thư biểu mô tế bào gan là hay gặp nhất.

Đối tượng cần lưu ý tầm soát ung thư Gan!

Theo Bác sỹ, những đối tượng có nguy cơ cao cần tầm soát ung thư gan bao gồm:

  • Những người MẮC BỆNH VỀ GAN và người có TIỀN SỬ GIA ĐÌNH mắc ung thư gan

Những người mắc bệnh viêm gan virus B, C, xơ gan, gan nhiễm mỡ, …hoặc trong gia đình có người mắc ung thư gan rất cần được tầm soát. Đặc biệt, nếu không may mắc viêm gan B,C thể hoạt động thì cần điều trị sớm sẽ tránh nguy cơ biến chứng thành ung thư gan. Bởi virus viêm gan B và viêm gan C là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư tế bào gan nguyên phát.

Các bệnh viêm gan do nguyên nhân tự miễn, có thể đi kèm các bệnh tự miễn khác: như đái tháo đường typ 1, Basedow, viêm khớp dạng thấp, Lupus ban đỏ,…. thì cần điều trị các bệnh tự miễn để tránh biến chứng sang gan về sau.

Với người chưa tiêm vaccine phòng virus viêm gan B thì nên tiêm phòng sớm nhất để tránh nguy cơ nhiễm bệnh về sau.

  • Những người BÉO PHÌ,TIỂU ĐƯỜNG

Trong vài năm gần đây, tỉ lệ người mắc bệnh tiểu đường, béo phì kèm theo ung thư gan trên thế giới đã gia tăng đáng kể. Đường máu và mỡ máu cao, sẽ được tích tụ tại gan, dẫn đến tổn thương thoái hoá các tế bào gan và dẫn tới xơ gan, làm tăng nguy cơ ung thư gan.

  • Người uống nhiều ĐỒ UỐNG CÓ CỒN

RƯỢU,BIA có khả năng thúc đẩy gen sinh ung thư phát triển nhanh, dẫn đến ung thư sớm. Acetaldehye được sinh ra trong quá trình chuyển hóa rượu cũng làm suy yếu khả năng sửa chữa sai sót tự nhiên DNA của tế bào, gây tăng nguy cơ đột biến tế bào, từ đó khối ung thư sẽ hình thành.

 

Ngoài ra, rượu còn gây tổn thương các tế bào gan: khi uống quá nhiều rượu, chức năng thải độc của gan sẽ bị quá tải, các tế bào gan bị tổn thương trầm trọng, hình thành nên các mô sẹo,xơ, từ đó hình thành các bè gan xơ và ung thư gan.

  • Những người ăn THỰC PHẨM NẤM MỐC:

AFLATOXIN trong nấm mốc là loại độc tố gây ung thư gan mạnh nhất hiện nay. Aflatoxin gây ung thư gan bằng cách gây đột biến ở gen p53. Nấm mốc thường xuất hiện ở những thực phẩm bảo quản, lưu trữ trong môi trường nóng, ẩm như gạo, lạc, đậu tương, lúa mì, ngô…

  • Người hay ăn THỊT TƯƠI SỐNG NHIỄM SÁN

Thực phẩm tươi sống không được chế biến kỹ càng (như ăn gỏi) thường chứa nhiều loại SÁN (sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ…), trong đó có những loại sán khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy gan, gây ung thư gan.

  • Người lạm dụng THUỐC,HOÁ CHẤT gây tổn thương gan

Một số thuốc, hóa chất nếu sử dụng hay tiếp xúc trong thời gian dài có thể gây tổn thương cho gan và dẫn tới ung thư gan như: thorotrast (trước đây được sử dụng cho chẩn đoán hình ảnh), vinyl chloride (sử dụng trong công nghiệp nhựa)v.v…

  • Người sử dụng CHẤT KÍCH THÍCH

Các chất kích thích như thuốc lá, café nếu sử dụng với hàm lượng nhiều, trong thời gian dài có thể gây nên các bệnh về gan, trong đó có ung thư gan.

Trên đây là 7 nhóm đối tượng nguy cơ, rất cần được sàng lọc sớm các bệnh về gan nói chung, và bệnh ung thư gan nói riêng. Các bác cứ yên tâm rằng, việc khám kiểm tra ung thư gan không quá phức tạp, thông thường, các Bs sẽ cho chỉ định làm xét nghiệm chỉ số ung thư gan (Alphafetoprotein-AFP) và siêu âm hình thái gan là có thể sơ bộ đánh giá về nguy cơ đối với lá gan của các bác rồi. Sau đó, nếu nghi ngờ, các Bs sẽ làm thêm một số xét nghiệm khác nữa để chẩn đoán xác định, mà không nhất thiết phải chọc kim sinh thiết vào gan mới khẳng định ung thư gan

Lời khuyên từ chuyên gia về phòng ngừa và điều trị ung thư gan

Sau khi được chỉ định xét nghiệm chức năng gan (chỉ số về men gan), người bệnh sẽ được kết luận về tình trạng gan hiện tại. Chỉ số men gan được hiểu là để thể hiện mức độ gan bị suy thoái hoặc giảm chức năng.

Chỉ số men gan được cho là bình thường khi không vượt quá mức giới hạn cho phép. Có 4 chỉ số men gan thông dụng được các bác sĩ chỉ định là ALT, AST, GGT, LDH, được phân chia theo giới tính và độ tuổi nên độ chính xác hầu như là tuyệt đối. Chỉ số được cho là bình thường cụ thể như sau:

  • Chỉ số ALT (hay còn gọi là GPT) giới hạn bình thường từ 5-37 UI/l
  • Chỉ số AST (hay còn gọi là GOT) giới hạn bình thường từ 5-40 UI/l
  • Chỉ số GGT giới hạn bình thường là 5-60 UI/l
  • Chỉ số ALP giới hạn bình thường từ 35-115 UI/l

Trong một số trường hợp, các chỉ số xét nghiệm về chức năng gan trên như ALT, AST có thể tăng hơn so với mức bình thường, nhưng không quá cao (gấp 2,3 lần) thì vẫn được cho là bình thường. Chỉ số GGT nếu cao hơn 1-2 mức thì cũng không ảnh hưởng đến chức năng gan và người bệnh cũng không quá lo ngại đến sức khỏe.

Nước tiểu có màu này, mau đi khám gan

Sự thay đổi về màu sắc của nước tiểu có thể là báo động đỏ đầu tiên cho thấy gan bị tổn thương.

Trường hợp của một phụ nữ người Nigeria (44 tuổi) được báo cáo trên tạp chí y khoa The Annals of Ibadan Postgraduate Medicine, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chú ý đến nước tiểu. Một trong những dấu hiệu đầu tiên của tổn thương gan có thể xuất hiện trong khi đi tiểu.

Trong trường hợp của người phụ nữ này, nước tiểu có màu sẫm là một trong những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo bệnh gan, theo tờ Express.

Dấu hiệu tổn thương Gan sớm nhất, xuất hiện trước các triệu chứng khác?

Theo trang tin y tế MedLine Plus, nước tiểu sẫm màu được coi là một trong những dấu hiệu tổn thương gan sớm nhất có thể xuất hiện trước các triệu chứng khác.

Nước tiểu có màu nâu sẫm, giống như cola.

Nguyên nhân là do bilirubin – một chất màu vàng được tạo ra trong quá trình phân hủy tế bào hồng cầu.

MedLine Plus giải thích: Gan sử dụng bilirubin để tạo ra mật giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn. Gan khỏe mạnh sẽ loại bỏ hầu hết các chất bilirubin khỏi cơ thể. Nhưng nếu gan có vấn đề, thì bilirubin có thể tích tụ trong máu và đi vào nước tiểu, theo Express.

Những lợi ích bất ngờ của tập thể dục với người mắc bệnh gan

Với người mắc bệnh gan, vận động thể chất là nhân tố vô cùng cần thiết để bệnh nhanh phục hồi và tiến triển tích cực.

Trong điều trị bệnh về gan như viêm gan virus, xơ gan, ngoài việc phải tuân thủ chặt chẽ chỉ dẫn dùng thuốc của bác sỹ, tuyệt đối không bỏ dở liệu trình điều trị, có chế độ ăn uống khoa học… thì vận động thể chất là phương pháp nên phối hợp để nâng cao sức đề kháng, giảm nhẹ các triệu chứng, hỗ trợ điều trị nguyên nhân, giảm các nguy cơ khiến tình trạng viêm gan, xơ gan tiến triển.

Dưới đây là những lợi ích của vận động thể chất với người mắc bệnh gan:

  1. Giảm mệt mỏi: Mệt mỏi là triệu chứng hay gặp nhất ở người bệnh viêm gan, xơ gan, thường do các nguyên nhân như dùng thuốc tây điều trị, ăn uống không đủ dinh dưỡng do gan chuyển hóa kém, năng lượng dự trữ giảm, tổn thương hệ miễn dịch, hay lo lắng hoặc do các bệnh khác kèm theo. Việc luyện tập là cách tốt nhất để có thể ăn ngon ngủ tốt, giảm lo âu căng thẳng, tăng giải phóng ATP (hợp chất giàu năng lượng), cung cấp năng lượng cho cơ thể, kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động. Như vậy người bệnh nhân sẽ giảm được cảm giác mệt mỏi.
  2. Giảm đầy bụng, chậm tiêu: Tập thể dục sẽ làm tăng cường vận động các cơ trên đường tiêu hóa, giúp cải thiện chứng táo bón hay gặp ở người bệnh gan.
  3. Giúp kích thích hệ thống miễn dịch: Hệ miễn dịch hoạt động tốt sẽ đáp ứng với điều trị tốt hơn.
  4. Giảm quá trình oxy hóa: Vận động thể chất giúp tăng tưới máu, tăng oxy nuôi dưỡng các mô, chống lại quá trình oxy hóa tại gan nên giảm được việc sản sinh ra gốc tự do có hại cho gan.
  5. Kích thích sản sinh glutathione: Đây là một chất tham gia vào quá trình thải độc của gan, giúp khử các gốc tự do sinh ra tại gan trong quá trình khử độc. Việc tập luyện kích thích sản sinh chất này sẽ tăng cường chức năng giải độc cho gan, bảo vệ gan khỏi tác nhân gây hại, rất cần thiết cho người bệnh gan.
  6. Giảm ảnh hưởng của các bệnh khác tới gan: khi bị viêm gan virus, xơ gan mà mắc thêm những bệnh khác như tăng huyết áp, béo phì, tiểu đường… thì sẽ làm cho việc điều trị gặp nhiều trở ngại. Việc luyện tập đúng cách sẽ giúp giảm áp lực bệnh tật cho người bệnh.

Một chế độ thể dục tốt cho người bệnh gan bắt đầu từ 10 đến 20 phút tập thể dục nhịp điệu, yoga, sau đó tập 5-10 phút các bài tập đi bộ, đạp xe, bơi. Mỗi ngày nên tập luyện 30 phút, tập 4-5 ngày/tuần. Tuy nhiên, nếu chỉ có thể tập vài phút mỗi lần thì người bệnh cũng không cần quá vội vàng, nên tập phù hợp theo thể trạng và lên dần cường độ tập. Đối với người viêm gan cấp tính hoặc xơ gan đang trong giai đoạn tiến triển thì nên vận động hết sức nhẹ nhàng và nên tham khảo ý kiến bác sỹ để có chế độ luyện tập tốt nhất.

Chế độ ăn 4 giảm và 4 tăng cho người bệnh gan

Người bệnh gan nên ăn gì và không nên ăn gì? Chế độ ăn “4 đừng” và “4 đủ” sau sẽ “khoanh vùng” những món ăn tốt và không tốt cho bệnh gan, cũng như hàm lượng cụ thể cho mỗi loại. Điều này sẽ giúp người bệnh tăng cường sức đề kháng tự nhiên để “chiến đấu” lâu dài với bệnh gan.

4 giảm” trong chế độ ăn kiêng cho người bệnh gan

Việc điều trị bệnh gan đạt hiệu quả nhanh hay chậm, phần lớn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng đúng của người bệnh. Theo đó, trước tiên, người bệnh cần loại bỏ thói quen ăn uống không tốt cho sức khỏe của gan bằng cách tuân theo “4 đừng” sau đây:

1. Đừng ăn nhiều đồ ngọt

Đường chỉ nên ăn trong khoảng cho phép. Theo nghiên cứu của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA), lượng đường thêm vào tối đa một ngày với nam giới là 150 calo (khoảng 37,5gr tương đương 9 muỗng cà phê đường), với phụ nữ là 100 calo (khoảng 25gr – tương đương 6 muỗng cà phê đường).

Theo đó, người bệnh gan không nên ăn trên 25gr/ngày (tương đương 5 thìa cà phê đường). Đường không chỉ khiến cơ thể nhanh lão hóa, tăng cân béo phì, stress… mà còn khiến gan “nặng trĩu”. Đường từ trái cây tự nhiên, mật ong, tinh bột sẽ tốt hơn các loại đường trong bánh kẹo, mứt…

2. Đừng ăn mặn

Muối có nhiều trong nước chấm hoặc các loại thực phẩm muối chua/ mặn

Tương tự như đường, WHO khuyến cáo, mỗi người chỉ nên dùng 5gr muối/người/ngày, tương đương với khoảng một muỗng cà phê muối. Muối là loại thực phẩm được khuyến cáo ăn hạn chế nhất, bởi chúng gây tác hại không nhỏ tới sức khỏe. Muối gây tăng nước trong tế bào, từ đó tích nước trên mặt hoặc hai chân của người bệnh gan. Ngoài ra, loại gia vị này còn tăng huyết áp và đẩy nhanh quá trình xơ gan. Vì vậy, chỉ nên ăn dưới 5gr muối/ngày.

3. Đừng ăn món nhiều dầu mỡ

Nội tạng động vật, thịt mỡ, các món ăn chiên xào, quá nhiều dầu mỡ làm tăng cholesterol và tăng áp lực lên gan. Người bệnh gan không nên ăn nhiều, những loại thực phẩm này. Lý do chất béo tích tụ lâu ngày sẽ tăng gánh nặng và kích thước của gan, gây ra bệnh gan nhiễm mỡ (là tình trạng lượng mỡ tích tụ nhiều trong gan, chiếm trên 5% khối lượng gan).

4. Đừng uống bia rượu

Theo chuyên gia, khi rượu bia vào cơ thể, chỉ khoảng 10% lượng cồn được đào thải qua đường tiểu, mồ hôi và hơi thở. 90% còn lại sẽ đến thẳng gan. Khi lượng cồn vượt quá mức một đơn vị sẽ khiến tế bào gan hoạt động quá tải, chất độc không được xử lý mà xâm nhập vào gan và cơ thể.

Không dừng lại ở đó, chất cồn và các độc tố khác từ bia rượu sẽ kích hoạt tế bào Kupffer của gan, làm sản sinh quá mức các chất gây viêm như Interleukin, TNF-α, TGF-β… tấn công tế bào gan, khiến chúng tổn thương và chết nhanh chóng.

Những nguyên nhân này dẫn đến tình trạng gan bị hư tổn và hủy hoại, từ đó gây suy giảm khả năng giải độc. Các độc tố ứ đọng ngày một nhiều làm gan nhiễm độc nặng nề. Tình trạng nhiễm độc kéo dài, gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm cho gan như gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan và những bệnh lý khác ngoài gan. 

Do đó, người bị bệnh gan nên loại trừ thức uống này ra khỏi thực đơn. Điều này giúp kìm hãm bệnh tiến triển, tình trạng xơ hóa vì thế cũng được “giảm tốc”. Thay thế rượu bằng nước lọc. Duy trì uống đủ lượng nước cần thiết cho cơ thể, khoảng 1,5-2 lít/ngày.

“4 tăng” trong chế độ ăn kiêng cho người bệnh gan

Để sống lâu, sống thọ, chỉ loại bỏ những thói quen ăn uống gây bất lợi cho gan thôi chưa đủ, người bệnh gan còn cần thu nạp hàm lượng dưỡng chất hợp lý theo 4 nhóm sau:

1. Đủ chất đạm

Chất đạm hay protein là dưỡng chất căn bản duy trì sự sống của mọi tế bào, là thành phần hình thành các mô cấu tạo. Thiếu chất đạm sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của cơ thể và hoạt động của cơ quan nội tạng.

Đối với cơ thể, nếu gan tạo ra 80% amino acid cần thiết từ chất đạm thì 20% còn lại phải do thực phẩm cung cấp. Do đó phần ăn cần đa dạng, có sự cân bằng các nhóm thực phẩm. Ngoài ra, nhu cầu về chất đạm cũng thay đổi tùy vào các yếu tố tuổi tác, giai đoạn tăng trưởng, và tình trạng hiện tại của cơ thể.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, lượng đạm tối thiểu cần thiết mỗi ngày cho người bình thường, ít vận động là 0,8gr/kg trọng lượng cơ thể. Thế nhưng, đối với người viêm gan ở giai đoạn nhẹ, nếu hoạt động nhiều, người bệnh cần nhân đôi (hoặc nhân 2,5) hàm lượng trên để duy trì sức khỏe. Khi bước vào giai đoạn nặng như viêm gan mạn thì lượng đạm cần duy trì 1-1,5gr/kg cân nặng/ngày. Tương tự xơ gan cần 1gr/kg cân nặng/ngày. Lý do, khi mắc bệnh, khả năng giải phóng glycogen dự trữ thành năng lượng của gan bị suy giảm, khiến cơ thể phải sử dụng các mô cơ để thực hiện chức năng này. Điều này khiến cơ bắp bị hao mòn và gây ra tình trạng suy dinh dưỡng.

Nguồn đạm đến từ nhóm thịt trắng như thịt gà hay cá, các loại đậu, hạt sẽ tốt cho người bệnh hơn là thịt từ bò hay heo.

2. Đủ chất béo lành mạnh

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chất béo có hai vai trò chính là cung cấp năng lượng và hấp thu vận chuyển các vitamin tan trong dầu mỡ. Thiếu chất béo, khiến cơ thể rơi vào trạng thái mau đói, suy giảm trí nhớ, hệ thống miễn dịch suy yếu…

Với người bình thường, giới hạn chất béo nên tiêu thụ trong ngày là khoảng 30gr (tương đương 5 thìa cà phê dầu, mỡ). Đối với người mắc bệnh gan chỉ nên thu nạp chất béo trong khoảng từ 15-30gr. Các chuyên gia đưa khuyến cáo, với những người mắc bệnh gan nên sử dụng đa dạng các loại dầu chiết xuất từ thực vật như dầu vừng, dầu đậu nành hay các loại hạt, cá hồi, bơ… thay thế cho dầu mỡ từ động vật.

3. Đủ chất xơ

Chất xơ hỗ trợ cho quá trình làm sạch của gan diễn trơn tru và hiệu quả

Chất xơ vốn đảm đương nhiệm vụ dọn dẹp, làm sạch đường tiêu hóa. Đối với người bị bệnh gan, chất xơ lại càng vô cùng cần thiết. Lý do, khi gan “mắc bệnh” chức năng lọc máu của gan hoạt động không tốt. Chất xơ sẽ hỗ trợ cho quá trình giảm tải “sức nặng” cho gan. Chất xơ tan trong các loại rau, củ, trái cây, các loạt hạt và đậu… giúp điều hòa đường trong máu và giảm cholesterol.

4. Đủ vitamin và khoáng chất

Khi bị bệnh gan, chức năng hòa tan các vitamin (A, D, E…) cũng sẽ bị ảnh hưởng, gây hiện tượng thiếu hụt vitamin và khoáng chất, vì thế sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm. Do đó, những thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất như trái cây tươi (cam, quýt, đu đủ, cà rốt, cà chua…), rau lá xanh (súp lơ xanh, cải bó xôi, rau muống, rau ngót, măng tây…) sẽ là nguồn dinh dưỡng dồi dào, cần thiết đối với người bị bệnh gan. Duy trì hàm lượng 400 – 600gr rau xanh + trái cây/ngày là con số lý tưởng để cung cấp chất xơ, vitamin và khoáng chất cho người bệnh gan.

Men gan là gì? Vai trò của men Gan

Men gan là gì?

Trong gan có hệ thống các enzyme rất hoàn chỉnh bao gồm: AST, ALT, GGT,… có chức năng hỗ trợ gan lọc bỏ độc tố, giúp hoàn thiện, tổng hợp và chuyển hóa các chất như bao gồm: lipid, gluxit, protid…, các enzyme này được gọi chung là men gan.

Vai trò men gan!

  • Gan đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển hóa thức ăn, ngoài ra còn có công dụng thanh lọc, đào thải độc tố tích tụ trong cơ thể ra bên ngoài. Dinh dưỡng từ thức ăn sau khi được hấp thu đưa về gan, gan làm chức năng thanh lọc rồi chuyển hóa thành những dưỡng chất phù hơp với cơ thể, đồng thời cũng loại bỏ những độc tố ra ngoài.
  • Khi cơ thể có dấu hiệu bất ổn thì gan thường là bộ phận chịu ảnh hưởng nặng nhất. Lúc này chỉ số men gan bất thường. Các enzyme trong tế bào được giải phóng và hòa tan trong máu vì thế máu sẽ chứa một lượng men gan nhất định, càng ngày càng tích tụ nhiều thêm, tăng cao hơn mức bình thường.
  • Bằng phương pháp xét nghiệm chỉ số men gan sẽ cho thấy được mức độ tổn thương gancũng như tình trạng sức khỏe của người bệnh. Nếu được phát hiện sớm thì sẽ có phương pháp điều trị hiệu quả, hạ men gan về mức ổn định. Nếu để lâu dài hoặc không được phát hiện kịp thời thì tình trạng bệnh lý sẽ càng ngày càng nặng, lúc đó phương pháp điều trị sẽ không được hiểu quả.

Chỉ số men gan bình thường là bao nhiêu?

Sau khi được chỉ định xét nghiệm chức năng gan (chỉ số về men gan), người bệnh sẽ được kết luận về tình trạng gan hiện tại. Chỉ số men gan được hiểu là để thể hiện mức độ gan bị suy thoái hoặc giảm chức năng.

Chỉ số men gan được cho là bình thường khi không vượt quá mức giới hạn cho phép. Có 4 chỉ số men gan thông dụng được các bác sĩ chỉ định là ALT, AST, GGT, LDH, được phân chia theo giới tính và độ tuổi nên độ chính xác hầu như là tuyệt đối. Chỉ số được cho là bình thường cụ thể như sau:

  • Chỉ số ALT (hay còn gọi là GPT) giới hạn bình thường từ 5-37 UI/l
  • Chỉ số AST (hay còn gọi là GOT) giới hạn bình thường từ 5-40 UI/l
  • Chỉ số GGT giới hạn bình thường là 5-60 UI/l
  • Chỉ số ALP giới hạn bình thường từ 35-115 UI/l

Trong một số trường hợp, các chỉ số xét nghiệm về chức năng gan trên như ALT, AST có thể tăng hơn so với mức bình thường, nhưng không quá cao (gấp 2,3 lần) thì vẫn được cho là bình thường. Chỉ số GGT nếu cao hơn 1-2 mức thì cũng không ảnh hưởng đến chức năng gan và người bệnh cũng không quá lo ngại đến sức khỏe.